Nghị định số 335/2026/NĐ-CP: Điều chỉnh mức trợ cấp xã hội và bổ sung đối tượng thụ hưởng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Nghị định nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng, đồng thời bổ sung một số nhóm đối tượng được hưởng chính sách và quy định cụ thể hơn về mức hỗ trợ trong các tình huống khẩn cấp.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng lên 540.000 đồng/tháng

Theo Nghị định số 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng, làm căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội hằng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác theo quy định.

Nghị định cũng tăng tính chủ động cho địa phương trong thực hiện chính sách an sinh xã hội. Theo đó, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp xã hội cao hơn mức quy định chung; đồng thời xem xét quy định thêm các đối tượng khó khăn khác trên địa bàn chưa được quy định trong Nghị định.

Đối với các đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định trước đây, mức chuẩn trợ giúp xã hội mới được áp dụng từ ngày 1/7/2026 theo quy định chuyển tiếp của Nghị định.

Bổ sung một số nhóm đối tượng được hưởng chính sách

Nghị định 335/2026/NĐ-CP bổ sung, điều chỉnh một số nhóm đối tượng nhằm mở rộng phạm vi hỗ trợ đối với những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn.

Trong đó, trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đang cư trú tại các xã, thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn được bổ sung vào nhóm hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, với mức bằng 1,5 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội.

Chính sách cũng được điều chỉnh đối với trường hợp người đơn thân thuộc hộ nghèo đang nuôi con. Nếu người con đã đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học phổ thông, học nghề, trung cấp, cao đẳng hoặc đại học văn bằng thứ nhất theo quy định thì người đơn thân tiếp tục được hưởng trợ cấp đến khi con kết thúc khóa học.

Đối với người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, trường hợp mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hưởng thêm kinh phí hỗ trợ chăm sóc theo mức quy định.

Quy định mức hỗ trợ trong tình huống khẩn cấp

Một nội dung đáng chú ý khác là Nghị định quy định cụ thể mức hỗ trợ tối thiểu đối với hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, thảm họa hoặc sự cố nghiêm trọng.

Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị sụp đổ, trôi hoặc cháy hoàn toàn, mức hỗ trợ làm nhà ở mới tối thiểu 40 triệu đồng/hộ. Trường hợp phải di dời nhà ở khẩn cấp do nguy cơ thiên tai được hỗ trợ tối thiểu 30 triệu đồng/hộ; sửa chữa nhà ở được hỗ trợ tối thiểu 20 triệu đồng/hộ.

Người bị thương nặng do thiên tai, sự cố và phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ 3 ngày trở lên được hỗ trợ tối thiểu bằng 10 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội, tương đương 5,4 triệu đồng theo mức chuẩn mới. Trường hợp người chết, mất tích do thiên tai, sự cố, chi phí mai táng khẩn cấp được hỗ trợ tối thiểu bằng 50 lần mức chuẩn, tương đương 27 triệu đồng.

Đẩy mạnh chi trả qua tài khoản, đơn giản hóa thủ tục

Nghị định cũng định hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong thực hiện chính sách trợ giúp xã hội. Việc chi trả trợ cấp, hỗ trợ được ưu tiên thực hiện thông qua tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản an sinh xã hội của đối tượng.

Thông tin của người đề nghị hưởng chính sách được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định, qua đó góp phần giảm giấy tờ và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Thời hạn giải quyết hồ sơ trợ cấp xã hội tại cấp xã được quy định 7 ngày làm việc; đối với hỗ trợ mai táng khẩn cấp, thời hạn giải quyết là 3 ngày làm việc.

Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/10/2026. Việc điều chỉnh mức chuẩn và mở rộng một số nhóm đối tượng thụ hưởng được kỳ vọng góp phần bảo đảm tốt hơn chính sách an sinh xã hội, nhất là đối với người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và người có hoàn cảnh khó khăn.

NLN